5/29/2012

" Những Đứa Con Trong Gia Đình" - Nguyễn Thi - ( Đọc hiểu và phân tích nhân vật )

I. Đọc, hiểu
1. Tác giả
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Ca,  bút danh là Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thi. Sinh năm 1928 tại Nam Định. Vào Sài Gòn từ nhỏ. Là nhà văn quân đội, hi sinh trong cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân, tại mặt trận Sài Gòn(1968).
Tác phẩm: Trăng sáng(1960), Đôi bạn(1962), "Người mẹ cầm súng", "Những đứa con trong gia đình",...
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi đậm đà bản sắc dân gian mà hiện đại, lối kể chuyện tự nhiên như cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Nam Bộ; nhân vật được trình bày trong mối quan hệ phức tạp và sự vận động phát triển đầy ấn tượng: trẻ trung, bộc trực, mãnh liệt đáng yêu.

Nguyễn Thi, Nguyễn Ngọc Tấn
Tác Giả Nguyễn Thi
2. Xuất xứ
Truyện "Những đứa con trong gia đình" được Nguyễn Thi viết vào tháng 2 năm 1966 tại chiến trường miền Nam khi đế quốc Mỹ đổ mấy chục vạn quân viễn chinh vào nhằm mục đích "bình định""tìm diệt". Chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt và quyết liệt. Truyện của Nguyễn Thi đã thể hiện khí thế ra trận của tuổi trẻ anh hùng miền Nam trong những giờ phút lịch sử sôi sục đó.
3. Tóm tắt
Việt quê ở Bến Tre. Chị gái là Quyết Chiến, hai chị em cùng đi bộ đội một ngày. Trong một trận đánh lớn trong rừng cao su, Việt dùng thủ pháo diệt một xe bọc thép Mĩ. Nhưng Việt đã bị thương nặng, ngất đi trên chiến trường, bị lạc đơn vị ba ngày đêm. Tỉnh rồi lại mê, mê rồi lại tỉnh, anh nhớ lại những kỉ niệm vui, buồn tuổi thơ, nhớ lại ba má, anh chị em, nhớ chú Năm. Cả ba lẫn má đều đã hi sinh trong chiến tranh. Việt và chị Chiến ra đi đánh giặc để báo thù cho ba má, để giải phóng quê hương, tiếp tục trang sử anh hùng của gia đình. Anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm Việt suốt ba ngày, mấy lần đụng địch, lục suốt mặt trận dài dặc mới gặp được Việt và đưa về bệnh viện quân y. Lúc vết thương sắp lành, anh Tánh giục Việt viết thư  cho chị Chiến.
4. Chủ đề
Truyện "Những đứa con trong gia đình" ca ngợi khí thế ra trận và khí phách anh hùng của tuổi trẻ miền Nam trong thời chống Mĩ. Họ ra trận đánh giặc để trả thù nhà cũng là để giải phóng quê hương.
5. Nhân vật anh hùng
- Chiến
Chiến là đứa con gái không khác mẹ tí nào: gan góc, đã nói là làm, chăm chỉ, đảm đang, tháo vát. Ba má hi sinh rồi, là chị gái trong nhà nên sớm biết lo toan, thu xếp việc nhà, gửi bàn thờ má... trước lúc ra trận. Tuy có lúc còn tranh giành với em, nhưng rất thương em, hay nhường em. Chiến ra trận với lời thề quyết chiến: "Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!" Chú Năm khen ngợi: "Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở  được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non".
- Việt
Việt là một thằng nhỏ gan, ra trận khi mới 17 tuổi. Hồn nhiên, hiếu động, rất thương chị nhưng hay tranh giành với chị, không sợ Mĩ mà lại sợ ma... Rất yêu thương đồng đội. Dũng cảm, ngoan cường trong chiến đấu, dùng thủ phảo diệt xe bọc thép Mĩ. Bị thương nặng, chân tay đẫm máu, mắt bị thương không nhìn thấy được, đói khát; chỉ còn một viên đạn đã lên nòng, sẵn sàng tử chiến với giặc. Rất thương ba má, nung nấu mối thù nhà, quyết đánh giặc để trả thù cho ba má, để giải phóng quê hương. Việt là đứa con yêu quý trong gia đình. Câu hò chú Năm gửi gắm bao tình cảm tốt đẹp với Việt: "khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười".
6. Ghi nhớ.
Đoạn văn hay nhất, đằm thắm chất trữ tình, hàm chứa chiều sâu triết lí:
..."Con sông nào của nước ta cũng đẹp, lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng  mát  mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng tốt của con người cũng sinh ra từ đó.Trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về một biển, mà biển thì rộng lắm, chị em Việt lớn lên rồi sẽ biết, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta".  
II. Đọc, cảm nhận
Phân tích nhân vật Việt.
Việt là một chàng trai có tâm hồn trong sáng và hồn nhiên yêu đời. Hai gò má thì "căng mướt" như da trái vú sữa. Nụ cười thì "lỏn lẻn". Việt là em ruột của chị Chiến, là con trai thứ hai của má Tư Năng. Chiếc ná thun bằng nạng ổi "láng o" đã gắn bó với tâm hồn Việt. Thuở nhỏ, Việt để đầu trần, lội tắt trong vườn, xách ná thun đi bắn chim. Lớn lên đi làm, cái ná thun lại giắt gọn sau lưng quần. Lúc trở thành một chiến sĩ Giải phóng quân, cầm súng tự động, đánh Mĩ bằng lê, thì cái ná thun vẫn còn nằm gọn trong túi áo của Việt. Chiếc ná thun là kỉ vật tuổi thơ, là một phần đời thân thiết của chú. Việt đã dùng nó đi gác, bắn "chóc... bịch !" báo tin cho các cô, các chú cán bộ ở trong nhà xuống hầm bí mật khi bọn lính giặc kéo tới.
Việt là một chú bé "hiếu thắng" hay tranh giành với chị Chiến. Từ chuyện bắt ếch, chuyện bắn tàu chiến Mĩ trên sông Định Thủy đến chuyện ghi tên tòng quân, Việt đều tranh giành với chị. Vốn được má cưng chiều, biết chị hay nhường nhịn, nên chú mới hay tranh giành như thế. Đó là một nét tâm lí dễ thương của tuổi thơ hồn nhiên.
Việt quý mến tin cậy đồng đội biết bao, nhất là anh Tánh, anh Công... nhưng Việt không cho ai biết là chú có chị gái tên là Quyết Chiến, tiểu đội trưởng của bộ đội nữ địa phương quân Bến Tre. Việt giấu chị như giấu của riêng vậy, vì cậu ta "sợ mất chị mà !". Khi Việt đã có hai tuổi quân, đã từng trải qua những trận đánh dữ dội, những cuộc đo lê ác liệt với giặc Mĩ, chú ta không sợ giặc, không sợ chết mà lại sợ ma. Bị lạc đơn vị, bị thương nằm một mình giữa chiến trường, chú "nằm thở dốc" khi chợt nhớ tới con ma cụt đầu, thằng chỏng thụt lưỡi mà các chị vẫn kể hồi ở nhà...
Cái đêm trước lúc hai chị em ra trận, chị Chiến bàn với cậu em trai thu xếp việc gia đình. Việt phó thác hết mọi chuyện cho chị gái, chỉ ậm ừ cho xong chuyện, "rồi ngủ quên lúc nào không biết". Thật là vô tư và hồn nhiên.
Việt là một con người có một trái tim giàu tình yêu thương. Bị thương nặng, nằm giữa chiến trường, Việt ngất đi mê man rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại mê đến ba bốn lần. Chú nhớ má, nhớ câu chuyện của má thời con gái, nhớ đôi mắt "sắc ánh lên" của má  khi má đứng trước mũi súng quân giặc, nhớ kỉ niệm đau thương mấy chị em theo má lên tới quận đòi "trả đầu ba". Việt nhớ "cái gáy đo đỏ và đôi vai lực lưỡng" của má lúc chèo xuồng, nhớ tiếng gọi đầy yêu thương của má: "Việt à, ra phụ má nghe con !". Có nhiều đêm má đi làm thuê đến canh hai mới về, Việt tỉnh giấc "ngửi thấy mùi lúa gạo và mùi mồ hôi của má ngay trên đầu mình". Sau ngày má mất, nhất là đêm cuối cùng trước lúc đi bộ đội, đom đóm từ ngoài rặng bần kéo vào đầy nhà, Việt cảm thấy "má cũng đã về đâu đây"... Việt cùng chị Chiến khiêng bàn thờ má gửi sang nhà chú Năm, Việt đã hứa với linh hồn má: "Chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, con lại đưa má về". Nghe tiếng chân bịch bịch của chị Chiến, Việt "thấy thương chị lạ". Lần đầu tiên, Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai. Việt càng yêu thương gia đình sâu nặng bao nhiêu thì chú càng căm thù quân giặc bấy nhiêu, đúng là "Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương"!
Thương má, thương chị, Việt nhớ và thương chú Năm vô cùng. Việt nhớ cuốn sổ của chú Năm ghi mọi chuyện "thỏn mỏn" của gia đình, nhớ chú Năm hay bênh Việt, nhớ giọng hò tức và đục như gà gáy của chú. Quên sao được câu hò của chú khi chị em Việt khiêng bàn thờ má đi gửi, tiếng hò "cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi ngắt lại như một lời thề dữ dội".
Việt là một chiến sĩ Giải phóng quân rất quả cảm, anh hùng. Chú ra trận mang theo sức mạnh truyền thống cách mạng của gia đình, sức mạnh của tình thương ba má..., sức mạnh của lòng căm thù quân xâm lược giày xéo quê hương.
Lúc còn sống, má đã từng nói với Việt: "Để má ráng nuôi bay lớn, coi bây có làm được gì cho cha mày vui không?". ý nghĩ "đi trả thù" thôi thúc Việt suốt đêm ngày. Chưa đủ 18 tuổi vẫn xung phong ghi tên tòng quân. Mới được 2 tuổi quân, Việt đã lập chiến công dùng thủ pháo tiêu diệt một xe bọc thép của giặc Mĩ. Bị trọng thương, khắp người "đau điếng, rỉ máu", đôi mắt sưng lên không nhìn thấy gì hết, mười ngón tay chỉ còn một ngón cái cử động được. Bị lạc đơn vị, đói, khát đã hai ba ngày đêm. Thế nhưng, ba viên đạn còn dưới hộp, một viên đã lên nòng, Việt vẫn day họng súng về phía giặc khi nghe hơi xe bọc thép chạy mỗi lúc một gần. Việt quyết đánh đến viên đạn cuối cùng, đánh đến giọt máu cuối cùng: "Tao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày". Việt không thấy đơn độc, anh tin rằng: "Nghe tiếng súng nổ, các anh tao sẽ chạy tới đâm mày !".
Gặp lại anh Tánh và đồng đội sau 3 ngày đêm bị trọng thương, bị lạc đơn vị một mình nằm giữa chiến trường, tuy đã bị kiệt sức, nhưng Việt vẫn giữ vững tư thế sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với quân thù, "ngón tay của cậu vẫn còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên nòng và chung quanh cậu, dấu xe bọc thép còn hằn ngang dọc". Câu hỏi đầu tiên của Việt là câu hỏi về tin chiến sự. Và Việt đã cười khi nghe anh Tánh báo tin "diệt hết rồi, trận đánh xong rồi, xong rồi...". Tư thế ấy, nụ cười ấy là những biểu hiện tuyệt đẹp tính cách anh hùng của đứa con trai má Tư Năng.
Cũng như chị Chiến, Việt là một đứa con đã nêu cao truyền thống gia đình, đi tiếp con đường cách mạng của ba má, "một lòng theo Đảng", hăm hở ra trận với quyết tâm "đi trả thù mà không sợ dài lâu" (Nguyễn Khoa Điềm). Chú Năm đã tự hào nói: "Việt là một thằng nhỏ gan". Việt đã trở thành câu hò, là hiện thân câu hò của chú Năm: "theo từng câu hò, khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười". Việt là niềm tự hào và hi vọng của gia đình, là hình bóng thân thiết của quê hương. Nhân vật Việt tiêu biểu cho tình yêu gia đình, quê hương đất nước, tinh thần chiến đấu quả cảm, khí phách anh hùng của những chàng trai vùng đồng bằng sông Cửu Long thời đánh Mĩ. Nhân vật Việt là một thành công của Nguyễn Thi về nghệ thuật xây dựng nhân vật và miêu tả tính cách anh hùng.

Bình luận
Mẹo: Đăng nhập vào Facebook để bắt đầu bình luận. Xem thêm cách vào Facebook.