8/26/2013

Kỹ năng làm văn So Sánh và một số ví dụ hay

Advertisements
Kỹ năng làm văn So Sánh là kỹ năng cần thiết để làm tốt một bài văn với yêu cầu đề bài so sánh giữa các tác phẩm, giá trị nghệ thuật,  giá trị nhân đạo tương đồng,.. Nói chung, kỹ năng này sẽ rất cần thiết khi bạn gặp một số đề thi như: Hãy phân tích những nét khác biệt và tương đồng của Sông Hương, Sông Đà. Phân tích và so sánh tinh thần nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân và Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài,...
 Các dạng văn so sánh:
1. So sánh 2 đoạn thơ:
+ Giới thiệu 2 tác giả, 2 tác phẩm, cảm nhận nội dung và nghệ thuật của từng khổ.
+ So sánh sự tương đồng và khác biết giữa 2 tác giả và tác phẩm này.
=> Kết luận chung.
2. So sánh nhân vật:
 Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, nhân vật và cảm nhận về nhân vật đó để rút ra sự tương đồng và khác biệt bao gồm cả nội dung và nghệ thuật.
 3. So sánh 2 chi tiết
 Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, ý nghĩa nội dung của chi tiết. => rút ra sự tương đồng và khác biệt.
4. Cảm nhận về 2 đoạn văn:
Nêu tác giả, tác phẩm, nội dung của đoạn văn, nghệ thuật của từng đoạn văn để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa 2 đoạn văn.

Một số bài ví dụ hay

Đề: Hãy phân tích những nét khác biệt và tương đồng của Sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.
Tương đồng:
- Cả 2 nhà văn đều khắc họa hình tượng của một dòng sông ở một miền đất, một xử sở để từ đó khắc họa những giá trị văn hóa, lịch sử, tâm hồn quê hương đất nước, con người.
- Cả 2 con sông đều mang ý nghĩa tượng trưng, đều là hình tượng cho một miền quê xứ sở.
- Cả 2 đều khắc họa nhưng một sinh thể về địa lí, văn hóa, lịch sử với những nét tương phản dữ dằn: hoang dại và thơ mộng trữ tình. Và cả 2 con sông đều mang vẻ đẹp kì vĩ đậm chất thơ.
Khác biệt:
- Ở sông Đà:
+ Nguyễn Tuân chú ý đến vẻ dẹp khác thường dữ dằn của Sông Đà vì thế tác giả tập trung miêu tả thạch trận thác nước sóng dữ trong cuộc giao chiến với con người. Hình tượng con sông: nhà văn đã làm nổi bật được hình tượng ông lái đò, vừa mang phẩm chất chiếc sĩ vừa là người nghệ sĩ trong cuộc giao chiến với thiên nhiên.
+ Cuộc chiến trên Sông Đà được miêu tả đầy kịch tính, gấp gáp, dữ dội với nhịp điệu nhanh, mạnh.
+ Vẻ đẹp Sông Đà gắn liền với lịch sử, tâm hồn, văn hóa của miền đất Tây Bắc hoang dại, dữ dội, nguyên sơ.
- Ở sông Hương:
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường chú ý đến quá trình biến đổi trong vẻ đẹp sông Hương từ 2 chiều không gian. Thượng nguồn về hạ lưu, thời gian từ dựng nước đến giữ nước hiện tại. Tác giả tập trung khắc họa tâm hồn Huế: tài tử, đa tình, phòng túng mà trầm lắng qua vẻ đẹp sông Hương ở chốn cố đô.
+ Cái bất ngờ của sông Hương không nằm ở sóng gềnh, thác nước như sông Đà mà nằm ở sự pha trộn giữa đời thường binh dị và cái huyền ảo lắng sâu khó nắm bắt như tâm hồn của một mỹ nhân nơi kinh thành huế.
=> Từ 2 hình tượng mà ta nhận ra nét tương đồng và khác biệt trong phong cách nghệ thuật của 2 tác giả: cùng chất tài hoa, tài tử phóng túng nhưng ở Nguyễn Tuân nổi bật nét uyên bát, ưa chuộng cái khác thường dữ dội. Còn ở Hoàng Phủ Ngọc Tường là yếu tố trữ tình, êm dịu, lắng sâu mà ta có thể cảm nhận được.

Đề 2: Phân tích và so sánh tinh thần nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim LânVợ Chồng A Phủ của Tô Hoài.

Khi viết bất cứ tác phẩm nào nhà văn cũng gửi vào đó suy nghĩ của mình. Với Vợ NhặtVợ Chồng A Phủ thì tinh thần nhân đạo là nổi bật và xuyên suốt trong tác phẩm. Họ đều viết về hoàn cảnh của người nhân dân trước cách mạng tháng 8, nhưng mỗi tác phẩm lại hướng về một chủ đề riêng. Đó đó, cũng bộc lộ những nét riêng về tinh thần nhân đạo.

Nếu như trong tác phẩm Vợ Nhặt người lao động đã rơi vào tình trạng chết chóc thì trong tác phẩm Vợ Chồng A Phủ nhà văn Tô Hoài đưa người đọc về với cảnh sống nặng nề, bị ràn buộc, đọa đày cả thể xác lẫn tinh thần với những thế lực thần quyền và cường quyề của bọn chúa đất miền núi. Cụ thể Mị và A Phủ chỉ vì những phong tục cổ hủ, lạc hậu mà cha Mị phải vay nợ nhà Thống lí Pá Tra từ đó Mị đã hoàn toàn mất quyền làm người. Thế lực cường quyền và thần quyền miền núi đã biến Mị từ một cô gái miền núi trẻ trung giỏi giang trở thành một phụ nữ lúc nào mặt cũng cúi và buồn rười rượi. Viết về điều này nhà văn Tô Hoài một mặt cảm thông chia sẽ với số phận khổ đau của người miền núi, lên án thế lực phong kiến miền núi hết sức tàn bạo. Chúng không chỉ đày đọa con người ta về mặt thể xác mà còn giết chết dần, chết mòn đời sống tinh thần của nhân dân lao động nghèo. Chúng không chỉ cướp mà còn dẫm đạp lên quyền sống vốn có của con người.

Cũng viết về nạn nhân của hoàn cảnh xã hội nước ta nhưng Kim Lân lại mở rộng lòng mình ra đối với những con người lay lắt trong cái đói cái nghèo mà nguyên nhân là do bọn Pháp cấu kết với phát xít Nhật đàn áp, vơ vét. Vì đói mà người đàn bà đánh mất sĩ diện, vứt bỏ lòng tự trọng chạy theo người đàn ông xa lạ thế mà với chị ta chỉ thấy đáng thương chứ không đáng trách. Rõ ràng, nhà văn Kim Lân đã cảm thông, chia sẽ với những hoàn cảnh đáng thương này. Cùng từ những hoàn cảnh đó mà con người trở nên gần gũi nhau hơn, cưu mang, đùm bọc nhau trong lúc đói. Nhà văn đã cảm thông chia sẽ, tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít đẩy nhân dân vào tình cảnh bần cùng.

Thế nhưng tinh thần nhân đạo của hai tác phẩm không dừng lại ở đó mà hai nhà văn giúp người đọc phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của họ ở bước đường cùng và mở ra cho con đường để cho họ đi tới.


(Còn tiếp...)

Thương Lee
Bình luận
Mẹo: Đăng nhập vào Facebook để bắt đầu bình luận. Xem thêm cách vào Facebook.